Tổng quan công nghệ SMS

SMS là sự viết tắt của cụm từ Short Message Service tạm dịch là dịch vụ tin nhắn ngắn. Là một giao thức viễn thông cho phép gửi các thông điệp dạng text ngắn (không quá 160 ký tự trên một tin nhắn). Giao thức này có trên hầu hết các điện thoại di động

SMS là sự viết tắt của cụm từ Short Message Service tạm dịch là dịch vụ tin nhắn ngắn. Là một giao thức viễn thông cho phép gửi các thông điệp dạng text ngắn (không quá 160 ký tự trên một tin nhắn). Giao thức này có trên hầu hết các điện thoại di động



SMS là công nghệ mà nó cho phép gửi và nhận những thông điệp giữa những chiếc điện thoại di động. SMS lần đầu tiên xuất hiện năm 1992, nó được sử dụng trên hệ thống mạng GSM đây là chuẩn duy nhất vào thời điểm khởi đầu. Sau đó nó được sử dụng cho các công nghệ mạng không dây khác như CDMA và TDMA. Đúng như ý nghĩa cái tên của nó "dịch vụ tin nhắn ngắn" dữ liệu mà nó có thể mang trong mỗi tin nhắn SMS vô cùng giới hạn. Một tin nhắn SMS chỉ có thể bao gồm nhiều nhất là 140 byte (tương đương với 1120 bit) dữ liệu vì vậy một tin nhắn chỉ có thể bao gồm các dạng sau:

- 160 ký tự nếu 7 bít ký tự mã hóa được dùng. 7 bít ký tự mã thích hợp cho việc mã hóa các ký tự Latin như bảng chữ cái alphabe của tiếng Anh.

- 70 ký tự nếu như 16 bit ký tự Unicode UCS2 mã hóa được dùng. Lúc này các ký tự trong tin nhắn văn bản SMS là những ký tự không thuộc hệ ký tự Latin như ký tự chữ Trung Quốc, phải sử dụng 16 bít ký tự để mã hóa.

- Ngoài định dạng văn bản, hệ thống tin nhắn SMS còn có thể mang được cả dữ liệu nhị phân. Nó có thế gửi nhạc chuông, hình ảnh, logo mạng, hình nền, ảnh động, business cards (ví dụ như VCards)

- Một lợi điểm chính của SMS là được hổ trợ 100% đối với các điện thoại di động GSM. Không giống như SMS, các công nghệ di động khác như WAP và Java thì không hỗ trợ hỗ trợ trên nhiều dòng điện thoại đời cũ.

- Một đặc tính nổi bật của SMS đó chính là sự báo nhận. Tức là nếu một máy di động gửi tin và có yêu cầu báo cáo tình trạng sau khi gửi tin nhắn. Trung tâm lưu trữ SMS sau khi gửi SMS đến máy đích và khi máy đích nhận được trung tâm sẽ phản hồi cho máy di động gửi tin một bản tin nhỏ gọi là bản tin xác nhận. Việc này giúp cho người gửi có thể biết được là bản tin SMS của mình đã được nhận hay chưa.



ƯU ĐIỂM VÀ KHUYẾT ĐIỂM:

a) Ưu điểm:

- SMS có thể gửi và đọc bất cứ lúc nào

- SMS có thể gửi khi máy nhận tắt :Không giống như một cuộc gọi ta có thể gửi một tin nhắn SMS đến người bạn của mình cho dù khi người bạn đó không bật máy hoặc đang ở một nơi nào đó không có tín hiệu. Hệ thống SMS của mạng di động sẽ lưu tin nhắn SMS đó lại và sẽ gửi đi sau đó khi máy của người bạn đó có tín hiệu trở lại.

- SMS ít làm mất tập trung khi đang làm việc

- SMS được hỗ trợ 100% đối với thiết bị di động GSM:Tin nhắn SMS là một công nghệ rất mạnh. Tất các thiết bị di động GSM đều hổ trợ chúng

b) Khuyết điểm:

Một điểm yếu của công nghệ SMS là một tin nhắn SMS chỉ có thể mang theo một khối lượng dữ liệu rất hạn chế. Để khắc phục vấn đề trên một cách giải quyết được đưa ra là nối các SMS lại với nhau (và nó được hiểu là một SMS dài).Một tin nhắn văn bản được nối lại có thể chứa hơn 160 ký tự Tiếng Anh. Công việc nỗi các SMS lại như sau. Bên phía điện thoại gửi tin nhắn sẽ chia một tin nhắn dài vào trong những phần nhỏ hơn và gửi từng phần của chúng đi như một tin nhắn SMS riêng biệt. Khi các tin nhắn SMS này đến được đích bên phía điện thoại nhận sẽ kết hợp chúng lại thành một tin nhắn dài. Công việc chia tin nhắn dài thành các tin nhắn nhỏ sẽ được tính như sau 160 ký tự đầu tiên sẽ chiếm 1 tin nhắn riêng, tin nhắn thứ 2 chỉ có 145 ký tự, tin nhắn thứ 3 có 152 ký tự và nhưng phần về sau sẽ là 152 ký tự mỗi tin.

09-10-2013 | Nguồn: ST
0903.379.585